Thách thức về cơ cấu dân số và tỷ số giới tính khi sinh

Năm 2008 đã khép lại với bao mối lo và những việc còn ngổn ngang của ngành dân số. Bước vào năm 2009, toàn thể ngành dân số sẽ nỗ lực kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự; nâng cao trình độ năng lực của cán bộ chuyên trách; đưa ra các giải pháp, các việc làm thật cụ thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao như chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ Nguyễn Bá Thủy tại Hội nghị giao ban công tác DS-KHHGĐ cuối năm 2008.

Bề bộn khó khăn

Với những biến động về bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, nhân lực của ngành dân số đang đứng trước khó khăn phải bước vào năm 2009 với tâm thế đạt kết quả tốt hơn năm trước. Song đến nay, đội ngũ cán bộ chuyên trách đạt chuẩn theo Thông tư của Bộ Y tế mới có 40%. Bên cạnh đó, đội ngũ này và cộng tác viên biến động nhiều…

Cùng đó, hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ bị gián đoạn, ngưng trệ do cán bộ tuyến huyện biến động, cộng tác viên DS-KHHGĐ bỏ việc; Máy chủ (chứa các cơ sở dữ liệu) được bàn giao cho ngành khác khi sáp-nhập dẫn tới việc thực hiện báo cáo thống kê không đầy đủ theo quy định. Việc này đã gây khó khăn cho việc thay đổi Sổ hộ gia đình và biểu mẫu báo cáo trong năm 2009.

“Gái hay trai chỉ hai là đủ”. Ảnh: Hồng Quang.

Thực trạng hoạt động của Trung tâm DS-KHHGĐ vẫn còn hạn chế. Nhiều Trung tâm DS-KHHGĐ các tỉnh, thành phố mặc dù đã có quyết định thành lập nhưng chưa đi vào hoạt động do không có cán bộ, chưa mở tài khoản, chưa có con dấu. Định biên cho Chi cục DS-KHHGĐ một số tỉnh còn thấp không tương xứng với nhiệm vụ được giao. Việc thiếu cán bộ tại Chi cục và các Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện gây khó khăn không nhỏ trong việc triển khai quản lý và tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn toàn tỉnh, nhất là khi có chiến dịch.

Một số địa phương còn lúng túng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Phòng Y tế (là cơ quan tham mưu giúp UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ) với Trung tâm DS-KHHGĐ huyện – đơn vị sự nghiệp tổ chức thực hiện các hoạt động DS-KHHGĐ. Một số địa phương lúng túng trong việc chuyển cán bộ DS-KHHGĐ cấp xã về Trạm Y tế do cán bộ DS-KHHGĐ xã có thâm niên công tác trong lĩnh vực DS-KHHGĐ nhiều năm, được tập huấn nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm và mong muốn gắn bó với công tác này, song trình độ đào tạo không đạt tiêu chuẩn, một số cán bộ tuổi đã cao do đó không đủ điều kiện chuyển sang làm viên chức ở Trạm Y tế xã…

Tỷ số giới tính khi sinh không giảm

Ông Dương Quốc Trọng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết: Từ năm 1979 – 1999, trung bình cứ 10 năm thì tỉ số giới tính khi sinh tăng thêm 1 điểm (năm 1979 là 105 trẻ trai/100 trẻ gái; 1989 tỉ lệ này là 106/100, năm 1999 là 107/100). Nhưng từ kỳ Tổng điều tra dân số năm 1999 đến nay thì tỉ số này tăng lên một cách nhanh chóng. Năm 2007, đã đạt con số là 112/100. Năm 2008, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê, tỉ số này vẫn giữ nguyên. Đây là tình hình rất đáng báo động, tỉ số giới tính khi sinh của ta hiện nay tương đương với tỉ số giới tính khi sinh của Trung Quốc cách đây 20 năm (1988 – 1990).

Ông Trọng cho biết thêm: Nếu tình trạng này cứ tiếp tục diễn ra thì dự kiến trong khoảng 15 – 20 năm tới sẽ thiếu từ 2,3 – 4,3 triệu nữ giới. Nghĩa là tính trung bình khoảng 3 triệu thanh niên nam Việt Nam không có cơ hội lấy vợ là người Việt Nam, phải tìm kiếm cơ hội khác. Bên cạnh đó, cơ cấu dân số Việt Nam đang chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Bắt đầu từ năm 2007, chúng ta đang bước vào cơ cấu dân số vàng với tiềm năng lao động dồi dào nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn về đào tạo nghề và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

Cùng với những khó khăn, thách thức trên, nguy cơ tiềm ẩn mức sinh tăng cao cũng là mối lo của những người làm công tác dân số. Theo ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục DS-KHHGĐ: Chỉ tiêu mức giảm sinh thực hiện năm 2007 chỉ đạt mức 0,25‰ so với chỉ tiêu 0,3‰ do Quốc hội giao. Chỉ có 6/64 tỉnh đạt chỉ tiêu giảm sinh là Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và thành phố Hồ Chí Minh; còn 58/64 tỉnh không đạt chỉ tiêu. Ước tính tỷ lệ sinh năm 2008 của cả nước chỉ giảm 0,1‰ so với năm 2007 và không đạt chỉ tiêu Quốc hội giao là 0,3‰. Có thể thấy, những thách thức về cơ cấu dân số và tình trạng tăng tỷ số giới tính khi sinh sẽ là những trọng tâm cần giải quyết trong năm 2009 và những năm tiếp theo.

Triển khai đồng bộ các giải pháp

Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ Nguyễn Bá Thủy đã chỉ đạo: Trong năm 2009, các Chi cục DS-KHHGĐ vừa phải kiện toàn bộ máy, vừa chú trọng nâng cao hoạt động chuyên môn, xây dựng lộ trình công tác đào tạo cán bộ chuyên trách, tham gia đề xuất những biện pháp hiệu quả về chủ trương chính sách, định hướng lớn của địa phương, của ngành.
Năm 2009, định hướng chương trình công tác dân số là vẫn kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con (từ 1-2 con), duy trì mức sinh thay thế, có giải pháp cho cơ cấu dân số và làm giảm tỷ số giới tính khi sinh. Cố gắng phấn đấu giảm sinh để tạo tiền đề đạt số dân 120 triệu người vào giữa thế kỷ 21. Đặc thù của công tác dân số là phải tập trung thực hiện cho năm sau ngay từ quý IV của năm trước, đặc biệt là vùng đông dân, vùng sâu, vùng xa. Năm 2009 sẽ phân loại, không tập trung quá nhiều vào những vùng đã đạt mức giảm sinh mà sẽ tập trung quyết liệt vào những vùng có mức sinh cao. Đặc biệt, xử lý nghiêm đối với tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi dưới bất cứ hình thức nào.
Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ Nguyễn Bá Thủy cũng cho hay: Năm 2009, Tổng cục DS-KHHGĐ sẽ song song triển khai một loạt biện pháp, đặc biệt chú trọng củng cố đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã. Xác định đến năm 2010 đào tạo được đội ngũ đạt chuẩn công chức của ngành y tế. Vì vậy, việc quan trọng trong thời gian tới là xác định giáo trình, mã số ngành y tế – dân số để có thể đưa vào các trường trung cấp, cao đẳng để đào tạo cho cán bộ chuyên trách. Cần có một lộ trình đào tạo phù hợp với từng miền, từng tỉnh. Những nơi nào cán bộ có đủ điều kiện thì tuyển ngay, những cán bộ chưa đạt cần được học trung cấp về dân số – y tế, bổ sung cho cán bộ có kinh nghiệm nhưng còn hổng về kiến thức dân số, nhân khẩu học…

Trong Pháp lệnh Dân số đã ghi rõ, nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính khi sinh. Trong đó, nghiêm cấm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về lựa chọn giới tính khi sinh. Nghiêm cấm thứ hai: Cấm chuẩn đoán (siêu âm, bắt mạch, soi nước ối, xét nghiệm nước ối, xét nghiệm tế bào…). Nghiêm cấm thứ ba: Nghiêm cấm tạo giới tính khi sinh, như sàng lọc tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể X, Y, chọn ngày phóng noãn… Nghiêm cấm thứ tư: Loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính, ví dụ người phụ nữ khát khao có con trai, khi biết thai nhi là con gái đã nạo phá thai. Người thực hiện các việc như trên như người cung cấp dịch vụ đó cũng đều bị nghiêm cấm.

Hà Anh
Nguồn Giadinhnet
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: